BSC – KHÁI NIỆM CŨ – CHIẾN LƯỢC MỚI

BSC (Balanced Scorecard) – Thẻ điểm cân bằng là một khái niệm ra đời cách đây khá lâu trên thế giới nhưng chỉ mới biết đến ở Việt Nam từ năm 2005. Vậy BSC là gì? Tại sao các nhà quản lý doanh nghiệp Việt trong 2,3 năm gần đây lại quan tâm nhiều hơn tới khái niệm này?

BSC là gì?

Balanced scorecard (thẻ điểm cân bằng) là hệ thống xây dựng kế hoạch và quản trị chiến lược, được sử dụng tại các tổ chức kinh doanh nhằm định hướng hoạt động kinh doanh theo tầm nhìn và chiến lược của tổ chức,nâng cao hiệu quả truyền thông nội bộ và bên ngoài, theo dõi hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp so với mục tiêu đề ra. Khái niệm này được đưa ra bởi tiến sĩ Robert Kaplan tại trường kinh doanh Harvard và David Norton.

Đây là mô hình đo lường hiệu quả hoạt động có tích hợp thêm các chỉ số không thuộc về tài chính bên cạnh các chỉ số tài chính truyền thống. Việc này cho phép các nhà quản lý có một cái nhìn “cân bằng” hơn về hoạt động của doanh nghiệp. Cụm từ “balanced scorecard” được sử dụng từ những năm 1990, nhưng nguồn gốc của phương pháp này xuất phát từ sự tiên phong của General Electric (GE) trong việc đưa ra báo cáo đo lường hiệu quả hoạt động vào những năm 1950.

BSC và những góc nhìn mới về quản lý và đánh giá

“Bạn chỉ có thể quản lý tốt những gì đo lường được”

Thẻ điểm cân bằng giữ lại việc đo lường tài chính như một bản tóm lược quan trọng về hiệu suất quản lý kinh doanh, đồng thời nêu bật lên một tập hợp các thước đo tổng quát và hợp nhất hơn, nhằm kết nối khách hàng hiện tại, quá trình nội tại, nhân viên và hiệu quả hoạt động của hệ thống với những thành công tài chính lâu dài.

Thẻ điểm cân bằng chuyển hóa sứ mệnh (mission) và chiến lược (strategy) thành những mục tiêu (objective) và thước đo (measure), được tổ chức thành 4 khía cạnh khác nhau là tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học tập – tăng trưởng.

ban do chien luoc

 

Mô hình chiến lược theo Thẻ điểm cân bằng

Khía cạnh tài chính (Financial Perspective): Thước đo tài chính luôn có giá trị trong việc tóm lược những kết quả kinh tế, từ đó có thể dễ dàng đo lường của những hoạt động đã thực hiện. Những thước đo hiệu quả hoạt động tài chính cho thấy liệu chiến lược, việc triển khai và thực thi chiến lược của một công ty có đóng góp vào việc cải thiện lợi nhuận hay không. Những mục tiêu tài chính nhìn chung thường liên quan tới mục tiêu sinh lợi (profitability). Chúng được đo bằng thu nhập từ hoạt động, từ lợi nhuận vốn sử dụng, hay gần đây hơn là giá trị kinh tế gia tăng. Những mục tiêu tài chính khác có thể là việc tăng trưởng doanh thu nhanh chóng hay sự phát sinh của dòng tiền mặt.

Khía cạnh khách hàng ( Customer Perspective): Tại khía cạnh này, các nhà quản lý nhận diện phân khúc khách hàng và thị trường mà ở đó doanh nghiệp có thể cạnh tranh; và những thước đo về hiệu quả hoạt động của đơn vị kinh doanh ở những phân khúc mục tiêu này. Bao gồm các thước đo cho mục tiêu như làm thỏa mãn khách hàng, giữ chân khách hàng, giành khách hàng mới, lợi nhuân từ khách hàng, thị phần ở những phân khúc mục tiêu. Khía cạnh khách hàng cho phép các nhà quản lý kết nối được chiến lược dựa trên khách hàng và thị trường, cái sẽ mang lại cho họ những kết quả cao về tài chính trong tương lai.

Khía cạnh Quy trình nội bộ (Internal-Business-Process Perspective): Trong khía cạnh này, lãnh đạo công ty xác định quy trình kinh doanh nội tại quan trọng mà tổ chức đó phải thực hiện tốt nhất. Các thước đo của quá trình kinh doanh nội tại tập trung vào những mục tiêu làm thỏa mãn khách hàng và đạt được những mục tiêu tài chính của một doanh nghiệp.

Nếu như phương thức truyền thống cố gắng giám sát và cải thiện những quá trình kinh doanh hiện hữu, chỉ tập trung vào quá tình hiện tại thì phương thức Thẻ điểm cân bằng còn tập trung vào đổi mới (Innovation Process). Phương thức thường xuyên nhận diện các quá trình hoàn toàn mới, đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt nhất nhằm đạt được mục tiêu khách hàng và tài chính dài hạn.

Khía cạnh học tập và tăng trưởng (Learning and Growth Perspective): Khía cạnh này xác định cơ sở hạ tầng mà tổ chức phải xây dựng để tạo ra sự phát triển và cải thiện dài hạn. Việc học tập và tăng trưởng xuất phát từ 3 nguồn chủ yếu: con người, hệ thống và quy trình tổ chức. Các mục tiêu ở 3 khía cạnh tài chính, khách hàng và quá trình kinh doanh nội tại sẽ tạo những khoảng cách lớn trong khả năng, hiệu suất làm việc của nhân viên, hệ thống và quy trình hiện thời với những mục tiêu cần đạt được. Do vậy, để thu hẹp khoảng này, doanh nghiệp cần đầu tư vào tái đào tạo nhân viên, tăng cường truyền thông nội bộ, kết nối các công việc thường nhật và các quy trình tổ chức.

Bốn khía cạnh trên liên quan chặt chẽ với nhau để tạo nên một “bản đồ chiến lược” dài hạn cho doanh nghiệp.

Đến nay hơn 65% doanh nghiệp trong top Fortune 1000 đã ứng dụng BSC. Tạp chí Harvard Business Review gọi đây là 1 trong 75 ý tưởng có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX. Còn doanh nghiệp bạn thì sao? Là một nhà quản lý, bạn có muốn tầm nhìn, chiến lược, mục tiêu và hành động của toàn công ty thống nhất?

Truy cập vào website http://www.cjs.vn hoặc liên hệ Cloudjet Solutions qua số điện thoại (08) 668.08.662 hay (08) 665.99.998 để đăng ký tư vấn sử dụng miễn phí!

 

 

 

Also read...

Comments are closed.